Để Phú Yên không ”khát”

UBND tỉnh Phú Yên vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể việc sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và dự báo đến năm 2020 nhằm sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước một cách tổng thể, toàn diện có định hướng lâu dài…

Để Phú Yên không ”khát”

Nhiều thách thức

Phú Yên là tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt tương đối phong phú. Toàn tỉnh có 5 sông lớn, 21 sông nhánh cấp I, 18 sông nhánh cấp II và một số sông suối nhỏ khác. Tổng lượng dòng chảy trung bình toàn tỉnh khoảng 13,5 tỉ m3/năm, trong đó lượng nước từ các tỉnh lân cận chảy vào khoảng 7,9 tỉ m3 và lượng nước sinh ra trong nội tỉnh khoảng 5,6 tỉ m3. Riêng về nguồn nước ngầm, chất lượng nước khá phức tạp. Mức độ chứa nước trong các tầng chứa nước cũng khác nhau, trong đó có triển vọng hơn cả là tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ. Tuy nhiên, do bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh, các suối ngắn, hẹp chỉ tồn tại theo mùa, hơn nữa những thay đổi trong việc sử dụng đất, tình trạng phá rừng… là nguyên nhân làm cho khả năng dẫn nước và trữ nước giảm đáng kể. Các hồ chứa bị bồi lắng và khô kiệt, nhiều sông suối bị khô cạn. Tình trạng thiếu nước tại vùng sâu, vùng xa, vùng biển xảy ra ngày càng nghiêm trọng.

Trước thực trạng trên, tỉnh Phú Yên đang đứng trước những thách thức lớn trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước. Hiện trên địa bàn tỉnh có 8 nhà máy nước, trong đó một nhà máy khai thác nước mặt và sáu nhà máy khai thác nước ngầm, với lưu lượng khai thác khoảng 35.000m3/ngày. 14 tổ chức sử dụng tài nguyên nước phục vụ công tác khai thác, chế biến khoáng sản với 23 mỏ khoáng sản 41 hồ chứa thủy lợi, hai hồ chứa thủy điện, 72 trạm bơm, 85 công trình nước sạch nông thôn cung cấp cho dân cư và 250 công trình nước sạch nông thôn cung cấp cho trường học và trạm y tế. 66 đập thủy lợi; 189 tổ chức, cá nhân có khai thác, sử dụng tài nguyên nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc quy hoạch khai thác và sử dụng nước phần lớn là do từng ngành thực hiện, chưa quan tâm tới việc đảm bảo nhu cầu nước cho môi trường. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình vi phạm việc xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường…
Đã có cơ sở để phân vùng quy hoạch tài nguyên nước phù hợp

Về tổng thể, trên toàn tỉnh là không thiếu nước. Tuy nhiên, nếu xét riêng từng vùng và theo từng tháng trong năm thì một số tháng trong mùa khô xảy ra tình trạng thiếu nước. Mức bảo đảm nước ở một số vùng hiện nay chỉ đạt trên dưới 90%. Theo tính toán và dự báo, tình trạng thiếu nước sẽ nghiêm trọng hơn vào năm 2015 với mức bảo đảm ở một số vùng trong một số tháng mùa khô chỉ đạt 60-80%. Trong điều kiện nhiệt độ không khí tương đối cao, mùa khô nắng nóng kéo dài, cát bụi do xây dựng, giao thông và tro bụi từ các nhà máy… là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến chất lượng nước mưa. Trong năm, xu thế bốc hơi tăng mạnh nhất từ tháng 1-3 và giảm nhẹ ở những tháng còn lại. Lượng mưa vào mùa mưa có xu thế tăng, còn mùa khô lại có xu thế giảm, rõ nét nhất là vào tháng 6, 7 của năm. Mực nước biển tăng lên, bờ biển có xu hướng dịch chuyển sâu vào đất liền. Tình trạng chặt phá rừng phòng hộ và rừng ngập mặn; kè lát bờ hồ, bờ sông không có quy hoạch, làm suy giảm lớp phủ thực vật, giảm khả năng tự làm sạch của dòng chảy mặt. Việc khai thác khoáng sản và các hoạt động khác ở ven sông không hợp lý, thiếu quy hoạch cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước… Có thể khẳng định, tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Phú Yên đang đứng trước nguy cơ suy giảm cả về chất và lượng. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước ở khu vực nông thôn, các đô thị và sản xuất điện. Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và làm tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước.

Ông Chế Bá Hùng, Phó Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Phú Yên cho biết, với việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước tỉnh Phú Yên đến năm 2015 và dự báo đến năm 2020 sẽ góp phần vào phân vùng quy hoạch nguồn tài nguyên nước theo tiêu chí vùng thuận lợi, khó khăn trong khai thác và sử dụng để từ đó có quy hoạch xây dựng các công trình khai thác phù hợp, hiệu quả; điều chuyển nguồn nước từ vùng thuận lợi đến vùng khó khăn; xây dựng các hồ chứa để dự trữ nước… Qua đó, đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước của các ngành, đặc biệt là cung cấp đủ nước sạch cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp. Phát huy hiệu quả sử dụng và tiết kiệm nước của tất cả các ngành dùng nước trong khu vực; bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm thiểu sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước. Áp dụng các biện pháp sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước thống nhất, phù hợp với lưu vực sông, những tác động của các hoạt động kinh tế – xã hội và tác động của việc sử dụng tài nguyên nước ở trung, thượng và hạ lưu.