Phòng ngừa tái phát viêm mũi xoang

Các nguyên nhân kinh điển: Viêm mũi xoang do các nhóm nguyên nhân chính như: Vi khuẩn, vi-rút và nấm; do dị ứng; do trào ngược dạ dày – thực quản; do hít phải các chất kích thích (bụi, khói thuốc lá, hoá chất…); do bất thường về giải phẫu (vẹo lệch vách ngăn, bóng hơi cuốn giữa, quá phát mỏm móc, bóng sàng, VA quá phát, các khối u vòm mũi họng…); do bệnh toàn thân: Suy giảm miễn dịch, bệnh xơ nang…

Phòng ngừa tái phát viêm mũi xoang

Viêm mũi xoang là tình trạng viêm nhiễm của niêm mạc mũi và các xoang cạnh mũi. Đây là một trong những bệnh lý thường gặp trong chuyên khoa tai mũi họng.

Ngày nay bệnh có xu hướng gia tăng do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Bệnh ít gây biến chứng nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường kéo dài dai dẳng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc.

Các nguyên nhân của viêm mũi xoang

Trong hơn hai thập kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mới về giải phẫu, sinh lý mũi xoang, vấn đề nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của viêm mũi xoang đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều điều còn bí ẩn chưa được giải thích thoả đáng.

Các nguyên nhân kinh điển: Viêm mũi xoang do các nhóm nguyên nhân chính như: Vi khuẩn, vi-rút và nấm; do dị ứng; do trào ngược dạ dày – thực quản; do hít phải các chất kích thích (bụi, khói thuốc lá, hoá chất…); do bất thường về giải phẫu (vẹo lệch vách ngăn, bóng hơi cuốn giữa, quá phát mỏm móc, bóng sàng, VA quá phát, các khối u vòm mũi họng…); do bệnh toàn thân: Suy giảm miễn dịch, bệnh xơ nang…

Các nguyên nhân mới: Do màng sinh học làm vi khuẩn tăng sức đề kháng với kháng sinh; do viêm xương; do siêu kháng nguyên (super antigen); do rối loạn chức năng lông chuyển gặp ở bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm đường hô hấp lâu dài. Ngoài ra, còn có các yếu tố nguy cơ như: Hen, yếu tố gen, môi trường sống…
Dấu hiệu nhận biết

Tùy theo từng trường hợp do viêm mũi xoang cấp tính hay mạn tính người bệnh sẽ có các biểu hiện khác nhau, nhưng biểu hiện ngạt mũi và chảy dịch mũi là dấu hiệu quan trọng. Ngạt mũi có thể ngạt từng lúc hoặc liên tục một bên hoặc hai bên, có khi ngạt hoàn toàn, dịch mũi có thể là dịch đục hoặc mủ trắng xanh làm hoen ố khăn tay, giấy ăn… Có trường hợp mủ chảy ra có mùi hôi hoặc thối. Một số người bệnh có thể gặp đau đầu âm ỉ vùng dưới ổ mắt, vùng trán, vùng chẩm sau gáy, đau nhiều vào buổi sáng và đau tăng lên trong đợt viêm cấp. Có bệnh nhân giảm ngửi hoặc mất ngửi thường do viêm, làm phù nề hốc mũi hoặc do polyp che kín làm cho không khí không lên được vùng ngửi của mũi. Nhiều trường hợp có dấu hiệu ho kéo dài do mủ từ các xoang chảy xuống gây kích thích vùng họng. Ngoài ra, có thể gặp ù tai, hắt hơi, hơi thở hôi…

Khám nội soi hốc mũi là thăm khám quan trọng trong chẩn đoán có thể thấy hình ảnh viêm xung huyết hoặc nhợt màu của niêm mạc mũi, quan sát được mủ, hoặc dịch nhày trong hốc mũi và các lỗ thông xoang. Khám nội soi có thể thấy các thay đổi về giải phẫu trong hốc mũi như vẹo vách ngăn, dị hình cuốn mũi. Đối với các trường hợp viêm mạn tính có thể thấy thoái hóa hoặc có khối polyp trong hốc mũi. Một số trường hợp ấn đau ở mặt trước xoang hàm, điểm trong góc mắt.

Chụp cắt lớp vi tính mũi xoang (chụp CT) thấy hình mờ các xoang, hình dày niêm mạc hoặc mức dịch trong xoang. Phim CT còn là bản đồ phẫu thuật giúp cho các bác sĩ trong các trường hợp cần phải mổ.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) được chỉ định trong trường hợp viêm xoang có biến chứng như các biến chứng ổ mắt và biến chứng nội sọ, hoặc trong trường hợp cần phân biệt giữa viêm xoang và khối u mũi xoang.
Một số biến chứng

Chúng ta có thể phân làm ba loại biến chứng: Biến chứng ổ mắt, biến chứng nội sọ (trong não) và biến chứng ở xương.

Biến chứng ổ mắt: Do các xoang cạnh mũi nằm sát ổ mắt nên nhiễm trùng có thể qua các xoang để lan vào ổ mắt, chủ yếu qua xoang sàng, trẻ em có tần suất biến chứng ổ mắt cao hơn người lớn do tần suất viêm đường hô hấp trên cao hơn. Biến chứng ổ mắt chia làm 5 nhóm từ nhẹ đến nặng: Đó là viêm mô tế bào trước vách, viêm mô tế bào ở mắt, áp xe dưới cốt mạc, áp xe ổ mắt và viêm tĩnh mạch xoang hang. Trong đó phần lớn các biến chứng này đều có chỉ định phẫu thuật dẫn lưu xoang và dẫn lưu áp xe kết hợp với điều trị nội khoa, đặc biệt là sử dụng kháng sinh đường tiêm phối hợp, bệnh nhân thường phải nằm viện dài ngày.

Biến chứng nội sọ: Các xoang nằm liền kề với đáy sọ trước và giữa, nhiễm trùng từ xoang có thể lây lan qua đường máu hoặc qua các phần khuyết xương giữa xoang và não – màng não do bẩm sinh hoặc sau chấn thương. Biến chứng nội sọ do viêm xoang bao gồm viêm màng não, áp xe dưới màng cứng, áp xe ngoài màng cứng và áp xe não. Các biến chứng này có tỷ lệ tử vong cao hoặc sau điều trị để lại các di chứng về thần kinh vĩnh viễn.

Biến chứng xương: Chủ yếu do viêm xoang trán gây cốt tủy viêm xương trán. Bệnh có thể xảy ra đơn thuần nhưng thường phối hợp với các biến chứng nội sọ khác đặc biệt là áp xe ngoài màng cứng.

Tỷ lệ biến chứng của viêm mũi xoang đã giảm nhiều trong vài thập kỷ gần đây, có thể do việc sử dụng kháng sinh đường uống, phổ rộng có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm trùng hô hấp trên. Tuy nhiên, biến chứng của viêm mũi xoang đòi hỏi việc điều trị phối hợp giữa phẫu thuật và nội khoa, một số trường hợp có thể mù vĩnh viễn hoặc các di chứng nặng nề về thần kinh.
Điều trị có khó?

Viêm mũi xoang cơ bản là điều trị nội khoa với việc sử dụng thuốc và các phương pháp điều trị hỗ trợ.

Điều trị bằng thuốc:

Thuốc kháng sinh được sử dụng khi có viêm mũi xoang cấp, đợt cấp của viêm mũi xoang mạn tính hoặc viêm mũi xoang có biến chứng, có thể kết hợp với thuốc chống viêm đường uống và xịt tại chỗ, thuốc kháng dị ứng, sử dụng thuốc co mạch tại chỗ giúp mũi thông thoáng, tuy nhiên không được sử dụng thuốc kéo dài. Ngoài ra, có thể dùng các thuốc điều trị triệu chứng khác như: Thuốc giảm đau, giảm ho long đờm, thuốc điều trị trào ngược dạ dày thực quản…
Điều trị hỗ trợ

Xịt rửa mũi: Bằng nước muối sinh lý 0,9% hoặc nước muối biển có tác dụng làm sạch, thông thoáng mũi, giảm phù nề, xung huyết, giảm ngạt mũi, làm tăng hiệu quả của các thuốc điều trị tại chỗ như steroid xịt mũi. Đây là phương pháp điều trị hỗ trợ rất quan trọng.

Xông mũi: Hơi nóng ẩm với các chất tinh dầu cải thiện chức năng mũi, sát khuẩn nhẹ, ngăn cản tình trạng khô niêm mạc và tạo vảy mũi.
Điều trị phẫu thuật

Khi điều trị nội khoa không kết quả, bệnh nhân viêm xoang có polyp nặng, các dị hình ở mũi hoặc viêm xoang có biến chứng cần phải điều trị bằng phẫu thuật. Ngày nay thường áp dụng phẫu thuật nội soi mũi xoang để phục hồi chức năng dẫn lưu, thông khí và bảo vệ của xoang. Phẫu thuật đem lại kết quả tốt, thời gian chăm sóc sau mổ nhẹ nhàng hơn các phẫu thuật kinh điển trước kia.
Và phòng bệnh…

Do đặc điểm bệnh kéo dài, dai dẳng và khó chữa nên viêm mũi xoang ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đồng thời cũng là gánh nặng về kinh tế cho người bệnh và xã hội bởi các chi phí cho khám, điều trị bệnh. Để phòng tránh viêm mũi xoang tái diễn chúng ta cần lưu ý đến việc hạn chế tiếp xúc với khói bụi, môi trường ô nhiễm, khí lạnh và các hóa chất độc hại, đeo khẩu trang khi tiếp xúc hoặc làm việc trong môi trường ô nhiễm; vệ sinh mũi hàng ngày theo hướng dẫn của cán bộ y tế; nâng cao thể trạng, nâng cao sức đề kháng bằng chế độ luyện tập thể thao và ăn uống hợp lý; điều trị các bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, các bệnh dị ứng. Khi có các dấu hiệu bất thường như chảy mũi, ngạt mũi kéo dài hoặc các biểu hiện như đau đầu, sưng mắt, lồi mắt, nhìn mờ… Đây thường là các dấu hiệu của biến chứng viêm mũi xoang thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để được tư vấn điều trị kịp thời. Không nên tự ý dùng kháng sinh, các thuốc nhỏ mũi khi không có ý kiến của bác sĩ; không sử dụng các loại thuốc, thảo dược không rõ nguồn gốc hoặc không có giấy phép của cơ quan chuyên môn vì có thể gây bệnh nặng hơn hoặc mất đi cơ hội điều trị khỏi viêm mũi xoang.